Thuần Việt Đại Lý Tự
Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6
:: Quên mật khẩu? ::
Chào mừng các bạn đến với diễn đàn
» Nếu đây là lần đầu tiên bạn tham gia diễn đàn, xin mời bạn xem phần hỏi/đáp để biết cách sử dụng diễn đàn.
» Để có thể tham gia thảo luận, các bạn phải đăng ký làm thành viên. Bấm vào đây để đăng ký.

News & Announcements
  • [Thuần Việt The Impressive]
Chào Cả nhà ! Trả lờiChào Cả nhà ! - 83 Trả lời
Những Điểm Đáng Yêu của BOT Trả lờiNhững Điểm Đáng Yêu của BOT - 75 Trả lời
Nỗi Niềm Của TOP Trả lờiNỗi Niềm Của TOP - 70 Trả lời
kiss và ảnh mới tự sướng nek Trả lờikiss và ảnh mới tự sướng nek - 67 Trả lời
xin chao moi nguoi...... Trả lờixin chao moi nguoi...... - 63 Trả lời
¶▬¶äñh phµç çµä ëm................ Trả lời¶▬¶äñh phµç çµä ëm................ - 61 Trả lời
Không biết post hình ở đâu lun thui post ở đây vậy Trả lờiKhông biết post hình ở đâu lun thui post ở đây vậy - 55 Trả lời
Rãnh rỗi post linh tinh Trả lờiRãnh rỗi post linh tinh - 54 Trả lời
Dau Biet...... Trả lờiDau Biet...... - 51 Trả lời
Em Se BuOnG TaY........... Trả lờiEm Se BuOnG TaY........... - 49 Trả lời
Chào Cả nhà ! lượt xemChào Cả nhà ! - 4332 Xem
tặng ck iu shương!.kiss lượt xemtặng ck iu shương!.kiss - 3554 Xem
Những Điểm Đáng Yêu của BOT lượt xemNhững Điểm Đáng Yêu của BOT - 3394 Xem
kiss và ảnh mới tự sướng nek lượt xemkiss và ảnh mới tự sướng nek - 3348 Xem
Nỗi Niềm Của TOP lượt xemNỗi Niềm Của TOP - 3305 Xem
Rãnh rỗi post linh tinh lượt xemRãnh rỗi post linh tinh - 3087 Xem
xin chao moi nguoi...... lượt xemxin chao moi nguoi...... - 3051 Xem
Không biết post hình ở đâu lun thui post ở đây vậy lượt xemKhông biết post hình ở đâu lun thui post ở đây vậy - 2762 Xem
¶▬¶äñh phµç çµä ëm................ lượt xem¶▬¶äñh phµç çµä ëm................ - 2685 Xem
Dau Biet...... lượt xemDau Biet...... - 2683 Xem
Dương Hạo Nhiên nhắn với Nội Qui Thông Điệp - Yêu Thương
gửi vào lúc Sat Apr 28, 2012 10:44 pm ...
:I - Các bạn chú ý :
Thông Điệp -Yêu Thương là nơi chúng ta cập nhập gửi đến người mình muốn gửi những lời yêu thương đậm đà cảm xúc và tràn đầy …
look_at.me nhắn với Gµï dëñ äï dö....
gửi vào lúc Thu Apr 12, 2012 12:59 pm ...
: “Bạn có biết vì sao giữa các ngón tay của chúng ta lại có những khỏang cách không? Đó là vì những khỏang trống ấy đang cần được lắp đầy bởi những …
look_at.me nhắn vớiÑïçë...........
gửi vào lúc Wed Apr 11, 2012 1:56 pm ...
:◙◙------»when you tell me that you love me ----»ÑhöÇçhïp.........
Nội quy Diễn Đàn [Click]
Tuyển CTV & BĐH cho Diễn Đàn [Click]
Công Tác Thuần Việt [Click]
Hội Trại Kỹ Năng [Click].
Update Update...

Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Xem thêm các bài viết khác cùng chuyên mục

-
Tue Mar 27, 2012 11:12 am
avatar
Tước hiệuVăn Sĩ

Hiện Đang:
Points : 2009
thanhked : 18
Points : 2009
thanhked : 18
Profile nagj
Points : 2009
thanhked : 18

Bài gửiTiêu đề: Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6

Tiêu đề: Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6

36 - QUAN ÂM BA MẶT ^

Xưa thật là xưa, ở thành Lạc Dương quan lại thì tham ô, thanh thiếu niên thì hư hỏng. Quan Âm Bồ Tát có ý định muốn giáo hóa họ, nên biến thành một người đàn bà nhà quê, tay cầm một cái hộp gấm, trong hộp có một tấm kính bằng đồng đen quý báu, đem đến chợ Lạc Dương bán.

Có người tới hỏi giá, người đàn bà nhà quê đáp :

- Tấm kính của tôi đây là một bảo vật rất quý hiếm có trên thế gian này, giá là một ngàn lượng bạc ròng, dư một hào không lấy, thiếu một hào không bán, không bớt không trừ, già trẻ lớn bé ai muốn mua cũng được. Người nào có mắt tinh đời hãy mau đem tiền tới mua, bỏ lỡ cơ hội này thì về sau có mười vạn tám ngàn lượng bạc cũng không được!

Có một thiếu niên muốn kiếm chuyện nên chỏ mồm vô hỏi :

- Tấm kính bằng đồng có chút xíu mà đòi giá cao quá vậy, thật là nói thách quá cỡ! Ðâu, bà nói cho tôi nghe thử, tấm kính này có cái gì hay?

Người đàn bà nhà quê trả lời :

- Tấm kính của tôi có nhiều cái hay lắm chứ! Thứ nhất, nó có thể soi được tâm người thiện hay ác, thứ hai, có thể chiếu ra tất cả quá khứ và vị lai nữa. Tốt thì chiếu ra tốt, xấu thì chiếu ra xấu, không sai một ly một tí nào. Quý vị nghĩ xem, với hai đặc điểm ấy không lẽ tấm kính này không đáng giá một ngàn lượng bạc hay sao?

Người thiếu niên kia nói :

- Xạo vừa thôi chứ bà nội! Thế gian này làm gì có một bảo vật như thế, chúng tôi không tin đâu, trừ khi nào bà cho chúng tôi soi thử một cái!

Ngài Quan Âm đáp :

- Soi một cái thì được, nhưng theo lệ thì mượn kính soi một cái phải trả tôi ba đồng.

Thiếu niên nọ bèn móc túi ra ba đồng trao cho Quan Âm Bồ Tát. Ngài Quan Âm lấy kính trong hộp ra, cầm trong tay và nói với thiếu niên nọ :

- Soi đi. Nhưng phải nhớ, không được suy nghĩ loạn xạ lung tung, phải tập trung tinh thần mà soi một cách nghiêm chỉnh, có thế kết quả mới rõ ràng được.

Thiếu niên nghe lời Bồ Tát, soi một cách nghiêm chỉnh. Quả nhiên trong kính hiện ra một cách rõ rệt từng cảnh, từng cảnh đã xẩy ra trong quá khứ. Chuyện quá khứ chiếu xong, lại hiện ra đủ thứ các chuyện sẽ phát sinh trong tương lai, cho tới đoạn cuối là thiếu niên chết rồi sẽ đoạ vào đường súc sinh, đầu thai lại thành một con chó cái.

Thiếu niên soi xong, kinh hãi không cùng, không ngờ rằng thành tích xấu xa hư hỏng của mình lại hiện lên hết trong kính, và hắn càng hoảng kinh hơn nữa khi thấy kiếp tới mình sẽ biến thành một con chó cái. May mà những điều hắn thấy người khác lại không trông thấy, người khác chỉ thấy mặt trái của kính, hoàn toàn trống rỗng, không có gì trên ấy cả.

Ngài Quan Âm lấy lại kính và hỏi :

- Sao, đáng giá ba đồng bạc không?

Thiếu niên nọ xuất mồ hôi trán, mặt mày tái mét, trả lời liên thanh :

- Ðáng! Ðáng! Ðáng!

Người xung quanh hỏi hắn đã thấy được những gì, hắn sợ làm trò cười cho thiên hạ, không dám trả lời sự thật nên chỉ lầu bầu :

- Mấy người đừng hỏi tôi, cứ bỏ ra ba đồng mà tự soi lấy, bảo đảm mấy người sẽ vừa ý.

Cuối cùng người hiếu kỳ rất đồng, nghe lời thiếu niên nọ nên tranh nhau thử món đồ chơi mới này. Người này bỏ ra ba đồng, người kia cũng móc ra ba đồng, thay phiên nhau mà soi kính. Người nào chưa được soi thì dành soi trước, nhưng một khi soi rồi thì không khóc lóc thê thảm cũng nhíu mày nhăn mặt, tâm sự trùng trùng. Mọi người ngẩn ngơ nhìn nhau, không ai thốt lên lời nào.

Quan Âm Bồ Tát cười thật tươi đứng thủ đằng trước, nhưng cũng không nói lên một tiếng. Từ giờ thìn đến giờ dậu, thấm thoát ba ngàn người đã soi kính rồi. Trong số ba ngàn người ấy, chín phần mười soi xong thì mặt mày buồn hiu, không tới một phần mười còn lại là vui vẻ hân hoan.

Tri phủ thành Lạc Dương thời ấy là một tên quan rất tham ô, chỉ chạy theo danh lợi, tâm tâm niệm niệm chỉ nghĩ làm sao để thăng quan tiến chức. Nghe nói ngoài đường có người bán kính báu, soi một cái là thấy ngay chuyện hên xui họa phúc của mình, ông rất muốn thử soi một phen, xem mình rồi sẽ được chức quan lớn tới đâu, và phát tài giàu đến chừng nào? Nghĩ thế ông cũng chạy ra chợ. Khi ông chạy tới thì Ngài Quan Âm cũng vừa đang thu xếp để trở về. Nhưng người mới đến là quan tri phủ đại nhân, đâu có thể không ngó ngàng đến, nên Ngài Quan Âm lại lấy kính ra để ông soi cho kỹ càng.

Lần này Ngài Quan Âm để cho ông soi tha hồ, không gấp gáp, và quan tri phủ mới soi đã kinh hoàng, mồ hôi lạnh toát ra dầm dề.

Trong kính bắt đầu xuất hiện từng cảnh từng cảnh một, lúc ông ăn hối lộ, vi phạm luật pháp, vu oan giá hoạ hại người, kết án người vô tội. Về sau bị oan hồn uổng tử báo thù, chết bất đắc kỳ tử, đọa xuống địa ngục, chịu đủ các cực hình tàn khốc. Sau đó nữa lại tái sinh làm lợn, được nuôi cho mập rồi vào tay đồ tể cắt mổ. Tri phủ càng nhìn càng sợ hãi, trong tâm dần dần có chút tỉnh ngộ. Lúc ấy người đàn bà nhà quê đã lấy lại tấm kính cất vào hộp, và thở dài :

- Một bảo vật như thế chỉ có ngàn lượng bạc, rẻ thế mà chỉ có người soi chứ chẳng có người mua, thế mới biết là ở thành Lạc Dương này thật ra không có ai có mắt tinh đời!

Nói xong bèn cầm hộp lên đứng dậy sửa soạn rời đi.

Khi Ngài Quan Âm đứng dậy thì đột nhiên khuôn mặt người đàn bà nhà quê biến mất nhường chỗ cho pháp tướng của Bồ Tát. Lúc ấy những người đứng nhìn, mỗi người thấy Bồ Tát một cách khác nhau : người ác thì thấy người đàn bà nhà quê kia biến thành một hung thần vô cùng bạo ác, nhìn thấy là kinh hồn khiếp vía. Người bình thường thì thấy bà lộ vẻ giận dữ, cũng đủ khiến họ cũng phải hết hồn. Chỉ có người hiền mới thấy bà mang khuôn mặt dịu hiền từ ái thân thiện, rõ ràng là Ðại Từ Ðại Bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ai nấy đều kinh dị, định thần nhìn kỹ, thì không còn thấy người đàn bà nhà quê bán kính ở đâu nữa. Tri phủ như người mê chợt tỉnh, lập tức quỳ xuống đất cáo bạch :

- Trượng thừa Bồ Tát đến giáo hóa, hạ quan đã biết lỗi rồi.

Nghe tri phủ nói thế, mọi người mới vỡ lẽ ra người đàn bà bán kính vừa rồi chính là Bồ Tát Quan Thế Âm. Từ đó, những kẻ chuyên làm ác đều tỉnh ngộ, bỏ ác làm lành. Những người làm quan đều trở nên thanh liêm, dân chúng cũng theo đó mà trở nên thuần hậu.

Sau đó, bá tánh thành Lạc Dương mới dùng số tiền mà Ngài Quan Âm đã bỏ lại xây lên một cái miếu thờ Quan Âm Bồ Tát và tượng của Ngài được tạc theo mắt thấy của họ, nghĩa là có ba mặt : một mặt Quan Âm Bồ Tát từ bi hiền hậu, một mặt vô cùng giận dữ và một mặt hung tợn, trong tay cầm một tấm kính báu, soi sáng cả đại thiên thế giới.

Bức tượng này, trong Phật giáo gọi là "Quan Âm du hí tam muội", và người phàm thì gọi là "Quan Âm ba mặt".



37 - CA NGAO KÉO KINH SÁCH ^

Những năm đầu đời nhà Thanh, có một vị tăng người Nhật đến hành hương ở Phổ Đà Sơn, tá túc ở chùa Pháp Vũ. Khi nhìn thấy kinh sách ở Tàng Kinh lâu, từng bộ, từng bộ đầy đủ, chữ in tinh xảo đẹp đẽ thì trong lòng rất ao ước. Vì vậy thầy không đi chùa nào khác lễ Phật, cả ngày chỉ quanh quẩn trước Tàng Kinh lâu, có giờ rảnh thì đứng trước cửa phòng ngây người ra mà nhìn kinh sách trong lầu kinh. Bên cạnh phòng ngủ của thầy có một vị hương khách khác tên là Nguyễn Tuấn, thật ra đây là tên đầu sỏ của một bọn giặc cướp nổi danh. Mấy ngày vừa qua hắn đã đoán rõ tâm tư của vị tăng người Nhật.

Một buổi tối nọ, Nguyễn Tuấn đi qua phòng của vị tăng, thì thà thì thào nói chuyện to nhỏ với thầy cho tới nửa đêm. Lúc đầu thì vị tăng lắc đầu quầy quậy, một lúc sau thì thầy cúi mặt, và cuối cùng, thầy gật đầu. Lúc ấy Nguyễn Tuấn mới hài lòng bước ra khỏi phòng. Thì ra hai người đã bàn tính và ước định với nhau rằng Nguyễn Tuấn sẽ lấy trộm những bộ kinh quý báu từ Tàng Kinh lâu, và vị tăng sẽ mua lại những bộ kinh ấy chở về Nhật Bổn. Hôm sau, Nguyễn Tuấn kêu gọi đồng bọn chuẩn bị chiếc thuyền đến tiếp ứng. Đến ấy, hắn lẻn vào Tàng Kinh lâu, lấy trộm ra chừng mười bộ kinh như Hoa Nghiêm Kinh, Kim Cang Kinh, Đại Bi Kinh v.v…, và cùng vị tăng Nhật Bổn âm thầm chuyển ra thuyền, và ngay đêm ấy thuyền vượt sóng rời khỏi Phổ Đà Sơn.

Khi thuyền cướp đến gần núi Lạc Ca thì cũng vừa đúng lúc Ngài Quan Âm muốn đến chỗ ấy. Từ rừng trúc tím Ngài đến Triều Âm động, chỉ lướt mắt là nhìn thấy thuyền cướp và những bộ kinh bị lấy trộm, và đồng thời cũng khám phá ra là thuyền đã bi thủng một lỗ và nước đang tràn vào, bèn gọi lớn "Cá ngao đâu?". Con cá ngao đã bị Ngài Quan Âm thu phục ngày xưa, đúng lúc ấy đang ngủ gà ngủ gật ở cửa động Triều Âm, nghe tiếng gọi của ngài hãy còn lười biếng thả người nổi lên mặt nước, mở con mắt ngái ngủ ra nhìn. Ngài Quan Âm dặn dò hắn :

- Thuyền cướp bị thủng một lỗ rồi, bên trong lại có kinh Phật, con hãy mau đi kéo nó vào bãi cát Thiên bộ sa.

Con kim ngao nghe nói phải đi kéo thuyền cướp trong lòng không vui, nên còn nấn ná chưa muốn đi vội. Ngài Quan Âm nóng ruột, nghiêm giọng :

- Nghiệp súc, mi chưa đi thì Kinh ướt hết còn chi! Mi mà làm hỏng việc thì ta sẽ phạt mi nhốt trong động, quay mặt vào tường 300 năm!

Con cá ngao nghe thế thì giật nẩy mình, vội vàng hướng về Ngài Quan Âm gật gật đầu rồi quay người lại hướng về Lạc Ca sơn.

Trở lại Nguyễn Tuấn, lái thuyền tới cửa núi Lạc Ca rồi, nhìn sóng đầy mặt biển như vô số nén bạc đang chạy lại phía mình, không khỏi cảm thấy vui thú mà cất lên tiếng ca, ca khẽ một câu hò chài lưới. Đột nhiên một tên đồng lõa la lên :

- Thuyền bị thủng! Thuyền bị thủng!

Nguyễn Tuấn cấp tốc hạ lệnh bịt chỗ thủng, nhưng càng bịt nước càng tràn vào nhiều hơn. Trong lúc cả thuyền cướp còn đang nhốn nháo và lúng túng, con thuyền bỗng từ từ được nâng lên cao, chỗ thủng từ từ bớt chảy nước, và một tia ánh sáng chiếu vào mạn thuyền. Bọn cướp nhìn nhau kinh ngạc. Nguyễn Tuấn nhô người ra nhìn, chỉ thấy một con vật khổng lồ, giống cá mà không phải cá, giống rùa mà không phải rùa đang kéo con thuyền đi ngược hướng, đáy thuyền dán sát trên mặt nước phăng phăng hướng về bãi cát Thiên Bộ sa.

Nguyễn Tuấn chưa kịp hiểu ất giáp chuyện gì đang xảy ra cho họ, con cá ngao đã kéo thuyền cướp đến gần bãi cát, dùng lưng ủi một cái, thuyền đã bị đẩy lên bãi.

Con kim ngao trút bỏ được gánh nặng, thấy nhẹ nhõm hẳn, đang muốn uốn mình lao vào dòng nước giỡn sóng một chút cho khuây khoả thì đã nghe Ngài Quan Âm đứng trên lưng hắn mắng rằng :

- Đừng có phá phách mà bẩn kinh Phật bây giờ!

Không còn cách nào hơn, con kim ngao chỉ biết chở ngài Quan Âm từ từ đến Lạc Ca sơn.

Bọn giặc cướp thấy tình cảnh chiếc thuyền như thế, đứa nào cũng run lẩy bẩy, bèn bỏ thuyền chạy trốn.

Những vị tăng giữ Tàng kinh lâu của Pháp Vũ tự nghe tin ấy, chạy một mạch tới bãi cát, chỉ thấy vị tăng Nhật Bổn đang đối diện với núi Lạc Ca, tụng kinh "Từ Bi" sang sảng, quỳ mọp xuống đất không ngẩng đầu lên. Các thầy đến Thiên Bộ sa xem xét, quả nhiên nhìn thấy những bị Kinh bị mất cắp không thiếu bộ nào, bèn mừng rỡ đưa kinh Phật trở về Tàng Kinh lâu.



38 - AO QUAN ÂM ^

Xưa thật là xưa, dưới chân núi Hổ Phong phía đông huyện Bích Sơn, tỉnh Tứ Xuyên có một người nhà giàu họ Hoàng. Tiểu thư nhà này đem lòng yêu thương một người thợ làm công trong nhà, ông nhà giàu biết được bèn cho tống cổ người thợ ra khỏi nhà. Tin này đến tai cô tiểu thư, cô bèn lén bỏ nhà đi theo tiếng gọi của ái tình.

Hai người đi hoài đi mãi, đi đến một khe núi nọ, người thợ mới nghĩ rằng :

- Ta nghèo khổ đến nỗi một cái nồi nấu cơm cũng không có, nên ở độc thân là hơn, tại sao lại kéo tiểu thư vào cái cảnh sống cơ cực này? Chi bằng lập kế bắt nàng phải trở về!

Nghĩ ngợi kỹ lưỡng rồi bèn ngắt một bó lá, nói rằng :

- Nàng ở đây chờ một chút, tôi ra đằng kia đi cầu rồi trở lại.

Nhưng người thợ một đi là không trở lại. Tiểu thư chờ đợi mỏi mòn, đi khắp các đường đèo dốc núi, vừa đi tìm vừa gọi tên, gọi tới rát khan cả cổ mà vẫn không thấy bóng người tình, cô tuyệt vọng quá đến một gốc cây treo cổ tự tử.

49 ngày sau, người thợ kia đi ngang qua khe núi bữa trước, tới chỗ chia tay với cô tiểu thư ngày nào thì bất chợt thấy nàng đang ngồi ở đấy. Anh chàng vội vàng tiến đến hỏi :

- Tại sao nàng lại ngồi ở đây?

Hoàng tiểu thư đáp :

- Sau khi chàng bỏ rơi thiếp, cha thiếp không đoái hoài tới thiếp nữa nên ngày nào thiếp cũng đến đây ngồi đợi chàng.

Người thợ thấy tiểu thư đối với mình chung tình và chân thành như thế, cảm thấy quá ăn năn hối hận, nói với nàng rằng :

- Không phải tôi muốn bỏ nàng, thật ra chỉ vì tôi quá nghèo khổ, không nỡ thấy nàng vì tôi mà phải sống cảnh bần cùng cơ cực nên mới hành động như thế khiến cho nàng phải đau lòng, có trời chứng kiến cho lòng thành của tôi!

- Thôi được, đừng nói đến nữa. Nhưng chàng phải hứa với thiếp là từ nay về sau chàng sẽ không bao giờ bỏ rơi thiếp nữa.

- Không bao giờ nữa đâu! Lần này là vì muốn cho nàng sung sướng nên mới làm như thế, nếu về sau còn làm thế nữa thì ra tôi táng tận lương tâm quá!

Thế là hai người đến phía Nam huyện Bích Sơn, tìm một cửa tiệm có mặt tiền hướng ra ngoài đường mà mở tiệm bánh hấp để sinh sống. Tiệm bánh hấp mở không bao lâu đã phát đạt vô cùng.

Một hôm, có một lão hòa thượng từ trên núi Hổ Phong xuống, thấy ở tiệm nọ có rất nhiều người đang tranh nhau mua bánh hấp, ngài cũng đến mua một cái.

Mới đến ngài cảm thấy có cái gì không ổn, dường như có yêu khí đâu đây! Nhìn kỹ lại, ngài phát giác rằng yêu khí là từ người của bà chủ tiệm toát ra. Ngài đứng đợi một chút, thấy ông chủ tiệm bước ra đường, bèn gọi ông lại mời ông cùng đi dạo với mình một vòng. Ông chủ tiệm nào phải ai xa lạ, chính là anh chàng thợ làm công xưa kia. Lão hòa thượng nói một cách thẳng thừng :

- Vợ ông là yêu tinh đó!

Người chồng nghe thế giật mình hoảng hồn, nhưng cũng hơi giận nên đáp rằng :

- Thầy dựa vào đâu mà nói vợ tôi là yêu tinh? Vợ tôi là một người đàn bà hiền lành đức độ, lại còn siêng năng giỏi giang, làm sao là yêu tinh được?

Lão hòa thượng hỏi ông hai người cưới nhau lúc nào, thì người chồng không dấu giếm gì cả, đem hết sự thật kể cho ngài nghe. Lão hòa thượng lại nói :

- Buổi sáng, hai ông bà ai là người ra khỏi giường trước?

- Vợ tôi luôn luôn dậy trước hấp bánh đâu đó xong xuôi rồi mới gọi tôi dậy, ai cũng nói tôi là "chuột sa chỉn nếp"!

Lão hòa thượng nói :

- Thế được rồi, sáng mai ông chờ bà ấy dậy, lén theo dõi xem bà ấy làm gì nhé.

Nói xong ngài bỏ đi ngay. Người chồng tuy nói là không tin nhưng cũng muốn làm cho hai năm rõ mười nên làm theo lời hòa thượng.

Sáng sớm hôm sau, người chồng thấy vợ ra khỏi giường rồi bèn mở mắt theo dõi. Trước hết, ông thấy vợ ra đứng trước gương chải đầu, chải đầu xong thì xuống bếp. Ông rón rén dậy theo, núp sau cánh cửa mà nhìn qua khe thì thấy vợ lấy gạo bỏ vào một cái vại lớn, chế nước vào rồi kê miệng thổi một hơi, gạo liền biến thành bột đã quậy nước rồi. Tiếp theo, ông thấy từng cái, từng cái lồng hấp bay vào nồi chồng lên nhau, không có lửa mà từ mấy cái lồng hấp ấy lại có khói bay lên mù mịt, còn vại bột gạo ban nãy thì không còn thấy nữa. Nhìn đến đây, ông tính trở về giường nhưng chợt thấy vợ biến thành một làn khói xanh bay xuyên qua khe cửa sổ mà ra khỏi nhà. Ông sợ quá, vội vàng trèo lên giường lấy mền che đầu kín mít. Một chốc sau bình tĩnh trở lại, ông suy nghĩ rằng :

- Yêu tinh cũng có người tốt kẻ xấu, từ khi cưới nhau nàng đối với ta rất tốt, chắc nàng sẽ không bao giờ hại ta đâu. Hơn nữa, may mà nàng có pháp thuật nên cửa tiệm bánh mới phát đạt như thế! Có gì đâu mà lo, yêu tinh thì yêu tinh, rồi đã sao nào?

Vợ ông trở về rồi bèn gọi ông dậy và hai người lại lo chuyện buôn bán như bình thường.

Không lâu sau, lão hòa thượng lại đến mua bánh nữa. Chờ vắng khách ngài lại gọi người chồng ra hỏi :

- Sao, ông thấy cả rồi phải không?

- Thấy thì thấy, nhưng vợ tôi không hại ai thì có sao đâu?

- Ông cứ cố chấp không chịu tỉnh ngộ! Bây giờ bà ấy không hại ai, còn về sau thì sao? Tại vì hồi đó ông bỏ rơi bà nên bà mới treo cổ tự tử, tại sao bà ấy chưa ăn sống ông tôi cũng lấy làm lạ! Nhưng thôi, chuyện đó không nói, nhưng trong thành còn có dân chúng có thể bị vạ lây với ông mà mang họa. Ta không thể thấy vậy mà để yên.

Nghe lão hòa thượng nói thế, người chồng cảm thấy đuối lý. Lão hòa thượng vội vàng vẽ 21 lá bùa, đưa cho ông dặn rằng :

- Ngày mai, đợi vợ ông ra khỏi nhà rồi thì lấy mấy lá bùa này dán lên phía trên cửa vào và cửa sổ, dán xong, thủ trong mình 21 quả trứng gà và lên núi Hổ Phong tới cái miếu bên cạnh ao Quan Âm tìm ta. Vợ ông sẽ theo đuổi ông, khi nào ông sắp bị bà ấy bắt kịp thì ném một quả trứng gà lên người bà. Gần đến miếu, ta sẽ có cách thu phục bà ấy.

Người chồng tiếp lấy bùa, lại nghĩ thầm rằng :

- Chính ra vợ ta trở thành yêu tinh là lỗi tại ta. Nếu quả thật sau này bị hại, có chết cũng cam tâm nhưng ngộ nhỡ để cho người khác bị liên lụy vạ lây, có bề gì thì tội ta rất lớn. Dầu sao đi nữa, xong vụ này ta phải xuất gia tu hành để độ cho oan hồn nàng được siêu sinh, có thế mới không uổng tình vợ chồng từ bao năm nay!

Nghĩ thế xong, ông trở về nhà và làm như không có chuyện gì xẩy ra. Hôm sau trời chưa sáng, vợ ông ra ngoài rồi, ông lấy mấy là bùa dán lên phía trên cửa ra vào và cửa sổ như lời lão hòa thượng chỉ bày, rồi lấy trứng gà đem theo mình, hướng phía núi Hổ Phong lên đường.

Vợ ông về nhà, thấy trên cửa và cửa sổ dán đầy bùa, nhớ lại lão hòa thượng hôm qua đến tìm chồng mình, bèn nghĩ rằng :

- Chắc chắn lão hòa thượng này đến phá thối chứ không ai vào đây cả!

Nghĩ xong bà quay đầu đuổi theo chồng, vừa chạy vừa kêu :

- Phu quân ơi, sao lại bỏ thiếp vậy? Thiếp một lòng một dạ với chàng mà!

Người chồng nghe tiếng vợ kêu như vậy, lòng đau như cắt, đôi chân mềm nhũn. Nhưng khi thấy vợ sắp đuổi kịp, biết mình không thể quay về được nữa, bèn nhớ lại lời dặn của lão hoà thượng, lấy một quả trứng gà cắn răng ném vào người vợ.

Vợ ông bị ném trúng quả trứng gà thì lập tức lùi lại mấy bước, kêu lên một cách thảm thiết :

- Chàng đừng ném trứng gà lên người thiếp nữa! Thiếp không bao giờ hại ai cả mà!

Người chồng thừa cơ ấy đứng lại nói với vợ rằng :

- Nàng đừng đuổi theo tôi nữa, tôi không cố ý bỏ nàng đâu. Tôi biết là tôi không xứng đáng với nàng, nhưng tôi đã quyết tâm xuất gia tu hành. Làm thầy tu rồi, biết đâu tôi có thể độ cho nàng được siêu sinh!

Nói xong ông lại quay đi hướng lên núi Hổ Phong mà chạy. Vợ ông cũng chạy theo đằng sau, chạy một lúc thì gần bắt kịp, ông lại phải ném một quả trứng gà khác. Cứ thế mà ném hết 21 quả trứng gà thì cửa miếu cũng hiện ra trước mắt. Người chồng bủn rủn chân tay, ngã nhào xuống đất.

Lão hòa thượng đã đứng trước cửa miếu từ bao giờ, mở xoạc một cánh quạt ra quạt một cái, trong ánh sáng chói lòa bắn ra, có thể thấy một làn khói xanh từ từ chui vào ao Quan Âm. Sau đó , giọng người vợ vang lên, vừa khóc vừa nói :

- Trời ơi, sao số của tôi khổ thế này!

Lão hòa thượng lại quạt thêm một cái nữa, bỗng có hai cái chuông sắt bay lên liên tiếp, một cái rơi trên cành cây mọc bên cạnh ao treo lủng lẳng, một cái nữa thì rơi vào trong ao Quan Âm.

Từ đó không nghe tiếng kêu khóc của người vợ nữa. Về sau có người nói rằng người chồng quả thật đã xuất gia làm thầy tu.

Tài Sản của nagj
Chữ ký của nagj

_________________
Mad nagj thất tình Mad
Share

_____
Tue Mar 27, 2012 11:13 am
avatar
Tước hiệuVăn Sĩ

Hiện Đang:
Points : 2009
thanhked : 18
Points : 2009
thanhked : 18
Profile nagj
Points : 2009
thanhked : 18

Bài gửiTiêu đề: Re: Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6

Tiêu đề: Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6

39 - ÐỘI ĐÁ CHẬN LÍNH ^

Ở Ðại Lý, tỉnh Vân Nam, dân tộc Bạch Tộc sống quây quần với nhau trong một sơn trại. Trong sơn trại có một ngôi miếu thờ một bức tượng Quan Âm lưng cõng một tảng đá lớn. Nghe nói rằng ngôi miếu này đã được dân Bạch Tộc xây lên từ thời nhà Hán để tạ ơn ngài Quan Âm.

Ðại Lý ở Vân Nam đất đai phì nhiêu, non xanh nước biếc. Người Bạch Tộc đã định cư ở đây từ không biết bao nhiêu là thế hệ rồi. Ðó là một sắc dân hiền lành chất phác, siêng năng cần mẫn và còn hát hay múa đẹp, họ sống một đời sống thanh bình, đủ ăn đủ mặc. Nhưng những năm cuối của triều đại nhà Hán thiên hạ loạn lạc, dân Bạch tộc bị nạn đao binh đe dọa.

Số là có một vị tri phủ ở Quế Lâm, Quảng Tây, đã dấy binh làm loạn và muốn kiếm tiền mua binh khí và lương thực nên nhắm sơn trại Ðại Lý của dân Bạch Tộc, quyết định kéo binh đến xâm chiếm sơn trại. Vị tri phủ nọ thừa biết dân Bạch Tộc hiền lành, không có phòng vệ, cho rằng xâm chiếm sơn trại cướp đọat tiền tài của cải của dân Bạch Tộc là một việc dễ dàng như trở bàn tay, nên dẫn đầu một toán binh sĩ hăm hở rầm rộ lên núi.

Nghe tin này, dân Bạch Tộc kinh hoàng, không ai là không lo sợ bất an. Ngay đúng cái thời điểm nguy hiểm đó, Quan Âm Bồ Tát đặt chân lên sơn trại.

Ðầu tiên, Ngài hóa thành một vị du tăng hành cước, tìm đến nhà trại chủ xin tá túc qua đêm. Trại chủ đang ưu sầu ủ ê, không biết sao đối phó với đám loạn binh đang kéo đến, nên nói với vị tăng hành cước :

- Sư phụ ơi, sư phụ đừng nghỉ chân đêm nay ở chỗ này thì hơn. Sư phụ không thấy đám loạn binh đang muốn xâm chiếm sơn trại của chúng tôi đó sao? Chúng tôi đang bàn tính với nhau tìm cách chống cự, nhưng ở đây binh lính không đông, tướng tá cũng không nhiều, làm sao chống cự lại họ! Dân chúng trong làng đang kiếm đường chạy giặc tứ tán, sư phụ nên chạy trốn đi để khỏi mất mạng.

Ai ngờ vị tăng hành cước điềm nhiên trả lời :

- Xin trại chủ bớt lo phiền, bần tăng có cách làm cho họ lui binh.

Trại chủ nhìn vị tăng một cách kinh dị :

- Làm cho họ lui binh? Sư phụ chỉ có một mình, làm cách nào để đẩy lùi họ được?

Vị tăng đáp :

- Bần tăng có cách. Chỉ xin trại chủ y theo lời của bần tăng mà bố trí là được. Một là tứ bề xung quanh thôn trại, phải cắm cờ xí cho nhiều vào. Hai là đặt chừng một trăm người lính đứng thủ vệ cửa trại một cách chỉnh tề để cho địch tưởng rằng bên trong sơn trại có một số đông quân lính đang mai phục và phòng vệ cẩn mật. Một chút nữa khi địch quân tới, một mình bần tăng sẽ đi chận họ lại.

Nói xong vị tăng rời sơn trại. Trại chủ bán tín bán nghi nhưng cũng cho sắp đặt bố trí y như lời vị tăng dặn dò.

Lúc ấy, một toán quân do vị tri phủ lãnh đạo hùng hổ xông lên sơn trại. Ở một chỗ cách sơn trại chừng vài trăm thước, tri phủ thấy một một người đang chận lối đi, thì ra đó là một bà già đầu tóc bạc phơ, lưng cõng một khối đá to tướng. Khối đá này vuông vức mỗi bề chừng hai xích, nặng ước chừng 1 trăm mấy chục cân là ít. Thế mà hơi thở bà cụ vẫn đều đặn, chân bước thoăn thoắt, nhẹ nhàng ném khối đá lên mặt đất. Nhìn trên mặt đường thì đã có rất nhiều khối đá lớn như thế chồng thành một núi cao, ngăn trở không có đội quân nào tiến vào được. Những tên lính tiên phong cảm thấy kỳ dị bèn hỏi bà cụ rằng :

- Bà cụ kia, đang làm gì đó? Già cả như vậy làm sao khiêng nổi một tảng đá lớn như thế?

Bà cụ cười đáp :

- Mấy ông không thấy sao? Tôi chồng đá để chận đường quân địch đó mà! Tôi thì già rồi, mấy viên đá nhỏ này ăn thua gì, chứ mấy anh chàng thanh niên trẻ tuổi trong trại thì khác, họ khiêng đá tảng nào tảng nấy to hơn thế này nhiều!

Người binh sĩ tiên phong nghe bà cụ nói thế bèn nói riêng với tên lính bên cạnh :

- Nếu bà già này mà sung sức như vậy thì bọn trai trẻ trong trại chắc là sức mạnh vô địch! Thật là đáng sợ.

Nói xong vội vàng trình tự sự lên vị tri phủ. Tri phủ tiến đến gần đội quân tiên phong, nhìn thấy tường đá rồi thì sợ hãi vô cùng. Ngước lên nhìn lần nữa thì thấy xung quanh trại cờ xí phần phật trong gió, đội quân thủ vệ thì tề chỉnh nghiêm mật, uy phong lẫm lẫm, bỗng đâm ra rụt rè, thầm nghĩ :

- Dân trên núi này sức mạnh vô song, ta không phải là đối thủ của họ, tự nhiên tiến vào chiếm đất thế nào cũng bị thua to!

Nghĩ thế xong bèn lập tức hạ lệnh lui binh. Bọn lính rút về Quảng Tây, thầm lặng như những con rùa rụt đầu.

Dân chúng từ sơn trại nhìn xuống, thấy rõ ràng mọi sự đã xảy ra. Trước tiên, họ ngạc nhiên thấy có một bà lão không biết từ đâu xuất hiện, nhưng lại không thấy vị tăng hành cước đâu nữa. Sau đó họ thấy bà lão ung dung thư thái từ eo núi bước ra với những tảng đá lớn trên lưng, rồi lại thấy đoàn quân giặc lên núi, không đánh mà lui thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Ðợi quân dịch rút lui xong, dân làng mới chạy túa ra đi tìm bà lão, nhưng bà đã biến đâu mất từ lâu!

Về sau, có một ông lão Phật tử duy nhất trong sơn trại bỗng nhiên đại ngộ, nghĩ ra rằng vị tăng hành cước và bà lão kia đều là Quan Âm Bồ Tát hiển thánh, và nói lên sự khám phá của mình cho mọi người nghe.

Dân làng ùn ùn quỳ xuống khấu đầu lễ tạ, tạ ơn Bồ Tát đã cứu họ khỏi nạn đạo binh, người mất nhà tan.



40 - HÒA THƯỢNG GIẢ BỊ PHẠT. ^

Ngày xưa có một nhà phú hộ, lớn tuổi rồi mới sinh được đứa con muộn, đặt tên là Thừa Tài.

Thời gian qua như thoi đưa, 18 năm sau Thừa Tài biến thành một thanh niên chơi bời phóng đãng, cả ngày ở ngoài đường rượu chè trai gái, chơi hoa bẻ cảnh, tiêu phí không biết bao nhiêu là tiền bạc. Lão phú hộ cưng con như ngọc, không những không trách mắng lấy nửa câu mà còn đắc ý nói rằng "tiền đi rồi tiền trở lại mà!".

Năm ấy lão phú hộ qua đời, gia tài kếch xù kia để lại hết cho Thừa Tài. Từ đấy, Thừa Tài mặc sức tiêu phí, nào cờ bạc nào lầu xanh, càng chơi bời càng sa lầy, không thể nào quay về con đường thiện được nữa. Không đến ba năm sau gia tài to lớn của cha để lại đã tiêu tán sạch sành sanh!

Một anh công tử con nhà phú hộ từ bé đến lớn chỉ biết ăn thịt uống rượu, trau tria chải chuốt, nay Thừa Tài đã biến thành một kẻ áo quần lam lũ, tóc tai bờm xờm như ăn mày, láng giềng không buồn ngó ngàng đến, bạn bè cũ cũng xoay mặt làm ngơ, ai nhìn cũng thấy phát ghét.

Thừa Tài nghĩ :

- Tiếp tục sống kiểu này thì thật là sống cũng như chết, phải tìm một con đường khác mới được.

Một hôm, hắn thấy một vị xuất gia đến làng của mình hóa duyên, được bất luận người giàu hay nghèo, ai ai cũng kính cẩn cúng dường. Thừa Tài thấy thế tròng mắt láo liên, nghĩ ra một kế :

- Đúng rồi! Giả dạng làm thầy chùa đi xin tiền, đúng là làm ăn không cần vốn!

Thế là hắn cạo đầu nhẵn thín, ăn mặc như thầy tu, đi ra làng khác hóa duyên. Nhưng mấy ngày sau, bụng no thì có no nhưng cặp đùi thì nhức nhối, chân đi khập khiễng, hắn biến thành một "ông thầy cà thọt".

Hóa duyên thật là khổ, Thừa Tài bèn nghĩ đến chuyện để tóc lại. Hôm ấy đang đi trên đường, bỗng thấy một ni cô trẻ tuổi đi ngang, chắp tay nói với hắn :

- Chưa thoát được tục lụy, đến Nam Hải lễ Phật, trước tiên phải bỏ ác, sau mới trở thành thiện.

Thừa Tài thấy đột nhiên xuất hiện một ni cô xinh đẹp mỹ miều, đến gặp mình nói chuyện có câu có kệ thì lập tức tươi cười hí hởn, tà niệm nẩy sinh. Vị ni cô trừng mắt một cái và bỏ đi lập tức, Thừa Tài chưa đi được mấy bước cà thọt mà người đẹp đã biến mất đằng xa.

Thừa Tài nhìn theo bóng dáng của cô, hai con mắt cứ xoay tít :

- A, Nam Hải Phổ Đà Sơn, chính là chốn Cực Lạc của các đệ tử nương thân cửa Phật đây mà!

Càng nghĩ hắn càng thích thú, thế là hắn vượt biển đến đảo Phổ Đà. Tuy nhiên hắn biết mình là một ông sư giả, không dám đến các chùa lớn xin tá túc mà chỉ đắp một túp lều tranh nhỏ ở ngã rẽ đường Ngọc Đường, bày một bức tượng Quan Âm Bồ Tát, gõ mõ thật to và tụng kinh Phật thì lí nhí trong họng, hóa duyên với khách hành hương qua lại.

Quả nhiên chuyện "làm ăn" của hắn cũng phát đạt, cuộc sống trở nên dư dả, nhưng tâm thì càng ngày càng gian tà. Không lâu sau, hắn bỏ túp lều tranh và chỉ chuyên môn theo đuổi các nữ hương khách trẻ tuổi, làm ô uế cửa Phật bằng những hành động đồi phong bại tục.

Một hôm Thừa Tài đến động Triều Âm, nham nhở nhìn ngắm những cô khách hành hương trẻ, có lúc dùng lời cợt nhã sàm sỡ để trêu ghẹo, có khi tìm cách kề vai sát vế, khiến cho các cô sợ hãi lúng túng, chỉ ráng trốn tránh mà không dám phản đối ra mặt.

Từ rừng Trúc Tím bỗng nhiên có một ni cô trẻ tuổi bước ra, trừng mắt nhìn Thừa Tài một cái rồi quay đi về phía động Quan Âm.

Thừa Tài nhận ra vị ni cô xinh đẹp mà mình đã có lần gặp bèn la lớn :

- Cô ấy đây rồi! Đúng là "hữu duyên thiên lý năng tương ngộ" mà!

Ba hồn chín vía của hắn đê mê, con mắt háo sắc của hắn như bị thôi miên, rồi như thể có một sợi dây vô hình nào kéo đi, hắn đi theo ni cô không rời nửa bước.

Một ni một tăng, người trước người sau, đi từ Quan Âm Động đến tảng đá Bàn Đà ở Tây Thiên, đi ngang Am Mai Phúc, vượt qua tảng đá có khắc chữ Tâm, chùa Phổ Tế, động Triều Dương, rồi ven theo bãi cát ngàn bộ, xuyên qua đình Vọng Hải, đi ngược về thung lũng cát bay, và cuối cùng đến động Phạm Âm.

Đi một vòng như thế khiến Thừa Tài nhức nhối tới long cả xương chân, mũi thở phì phì.

Trời bắt đầu tối, xung quanh không có một người. Thừa Tài thấy ni cô ngồi xuống một cái lan can bằng đá, cúi đầu chăm chú nhìn cảnh chiều trên biển, bèn bổ xông tới như con chó đói. Nào ngờ đầu hắn bị va vào thành đá lan can nghe cái "rầm", máu chảy dầm dề. Vị ni cô nọ đã ngồi trên hoa sen từ bao giờ, đưa tay về phía Phạm Âm động phất nhẹ, từ trong động chợt vọt ra một ngọn sóng cao cả trăm trượng, cuốn Thừa Tài ra biển Liên Hoa biến thành con cá heo.

Thừa Tài hối hận cũng đã muộn. Từ đó mỗi kỳ nước lũ mùa xuân người ta lại nghe "bõm, bõm", đó là con cá heo từ ngoài biển khơi hướng về Phổ Đà Sơn mà lễ bái, cầu xin Bồ Tát Quan Âm phát từ bi tâm xá tội cho nó. Nhưng Ngài Quan Âm vẫn còn giận nó làm chuyện xấu xa, ô uế đất Phật, nên chưa chịu tha.



41 - LẦU QUAN ÂM ^

Vào thời Đông Trưng, vua Đường Thái Tông mỗi lẫn đi hay về cũng đều ngừng chân lại ở Kế Châu. Về tới Trường An rồi, để chứng tỏ sự lưu tâm của mình đối với dân chúng ở Kế Châu, vua đặc biệt phái Uất Trì Kính Đức (lnd : một võ tướng nổi danh đời Đường) đến đấy trông coi việc xây cất một ngôi chùa.

Lệnh của vua là phải xây một ngôi chùa to nhất nước, và khắc một pho tượng Phật cũng lớn nhất nước, toàn quốc không có ngôi chùa nào hay pho tượng Phật nào lớn bằng. Uất Trì Kính Đức phụng mệnh vua, bèn triệu tập hơn mười người thợ nổi tiếng, bảo họ chế tạo cho họ mô hình của một cái lầu Quan Âm cho chùa Đại Phật. Ông đòi hỏi rằng :

- Tượng Phật cao nên lầu cũng phải cao. Không được dùng đinh, không được dùng ốc. Bây giờ các ông cũng như Bát Tiên sang sông vậy, mỗi người hãy về thi thố tài năng của mình đi!

Một tháng sau, những người thợ trình lên cho ông một vài mô hình, nhưng ông xem một lúc, lắc đầu không ngừng, không có cái nào được ông chấm cả. Cái thì bắt chước những kiến trúc bằng gỗ đã từng xây ở chỗ khác rồi nên không có cá tính gì cả ; cái thì quá cứng ngắc, không đủ đẹp mắt và trang nhã ; cái thì tạm có thể gọi là tinh xảo nhưng lại không thể chứa được một pho tượng Phật cao năm, sáu trượng (17 hay 20 thước tây).

Một tháng lại trôi qua, đám thợ lại trình lên một vài mô hình khác. Uất Trì Kính Đức mới thoạt nhìn đã giận quá, râu xõa ra hết vì mấy cái mô hình ấy, cái nào cũng như cái nấy, chỉ là những đồ bỏ không hơn không kém! Ông lớn tiếng quát lên :

- Đồ ngu! Đồ ngu!

Không có mô hình nào của lầu Quan Âm làm cho Uất Trì Kính Đức vừa ý khiến ông lo lắng sủi cả bọt mép, ăn thì nuốt không xuống, ngủ thì không chợp mắt được.

Buổi chiều hôm ấy, ông ngồi nốc một mình hai lượng rượu giải sầu, mê mê tỉnh tỉnh dựa vào chồng mền được xếp ngay ngắn đằng sau lưng, đột nhiên thấy một ông lão râu đen đẩy cửa bước vào phòng, tay cầm một cái lồng dế. Uất Trì Kính Đức nhìn cái lồng, nó không giống một cái lồng dế bình thường mà lại tinh xảo đặc thù, hình dáng như một cái lầu các, từ ngoài nhìn thì thấy có hai gian, từ trong nhìn thì thấy có ba tầng, ở giữa trống không thông lên tới đỉnh. Mắt ông chợt sáng lên, đây đúng là một mô hình của lầu Quan Âm mà ông thấy trúng ý mình nhất. Ông vội hỏi :

- Sư phụ à, cái lồng dế này bao nhiêu tiền?

Ông lão râu đen đáp :

- Bao nhiêu cũng không bán.

Uất Trì Kính Đức lo quá :

- Tôi đặc biệt cần một cái lồng dế như thế này.

- Tôi đặc biệt đem cái lồng này đến tặng ngài đó chứ!

Nói xong ông lão râu đen đặt lồng dế lên bàn, quay người bỏ đi ra ngoài.

- Ông ơi khoan đi đã, để tôi trả tiền cho ông!

Uất Trì Kính Đức đưa chân lên toan chạy đuổi theo thì "huỵch" một tiếng, ông từ giường lăn xuống đất, thì ra đó chỉ là một giấc mộng!

Ông đứng dậy, lượt qua một lần trong óc những gì đã mộng thấy, mừng rỡ quá chạy ra khỏi phòng và ngay đêm ấy, cho gọi bọn thợ đến, tả lại cho họ nghe tỉ mỉ hình dáng cái lồng dế mà ông đã thấy trong mộng.

Bọn thợ nghe xong thì hiểu ý ông một cách rõ ràng. Họ làm việc ngày đêm không ngừng, chẳng lâu sau đã tạo được một cái mô hình của lầu Quan Âm. Uất Trì Kính Đức nhìn qua là vừa lòng ngay, thế là chỉ mấy ngày sau họ khởi công xây cất.

Ba tháng nữa trôi qua, sườn cốt của lầu Quan Âm đã được dựng lên, họ bắt đầu đóng cái rui. Một buổi trưa nọ, bọn thợ đang ngồi dưới đất vừa ăn cơm vừa cười nói vui vẻ, thì có một ông lão râu đen bước đến vái chào và nói :

- Tôi là thợ mộc, đi cùng với gia đình ngang qua đây nhưng hết tiền lộ phí, xin quý ông vui lòng cho tôi xin một chút cơm.

Bọn thợ nói :

- Mời ông ngồi xuống đây ăn chung với chúng tôi.

Ông lão đưa chén lên, và mấy và cơm rồi gắp một gắp rau bỏ vào miệng, vừa nhồm nhoàm nhai vừa nói :

- Thiếu muối!

- Ông ăn mặn quá nhỉ, chúng tôi đã bỏ muối vào rau nhiều rồi đấy!

Một người thợ vừa nói vừa đưa cho ông một nhúm muối.

Ông lão lại gắp rau rồi nói một lần nữa :

- Thiếu muối!

Một người thợ khác lại bốc muối đưa cho ông. Sau một lúc ông lại gắp rau ăn, dùng tay lau mồm, ngẩng cổ lên nhìn lầu Quan Âm, lắc đầu bước ra ngoài bỏ đi, vừa đi vừa lầu bầu :

- Thiếu muối! Thiếu muối!

Sau đó bọn thợ kể lại chuyện này cho Uất Trì Kính Đức nghe, ông này giật mình và nhận ra ngay : vóc người cùng mặt mũi của ông lão râu đen này giống y hệt với ông lão đã đem lồng dế lại cho mình trong mộng, không phải là thầy Lỗ Ban hiển thánh đó sao?

Ông đứng trước lầu Quan Âm, một mặt nhìn cái rui đã đóng xong, một mặt suy nghĩ đến hai chữ "thiếu muối". Thật lâu sau, ông chợt tìm ra đáp số cho bài toán đố trên : thì ra cái rui đỡ mái hiên ngắn quá! (lnd : muối tiếng Hán là "diêm", đọc là "yán" ; mái hiên, "thiềm", cũng đọc là "yán" ; "đoản" là ngắn, thiếu…).

Ông bảo thợ leo lên giàn, nối cái rui dài ra một xích (33 cm), ôi! Tuyệt vời! Chống cái đấu xong thì mái hiên lầu dường như muốn cất cánh bay lên vậy! Thế là Uất Trì Kính Đức ra lệnh chỗ nào của rui mái hiên có dáng hất lên như nét "khiêu" (lnd : nét hất từ dưới lên trên trong thư pháp) thì nối dài ra một xích.

Một năm sau, lầu Quan Âm xây xong, Uất Trì Kính Đức muốn mời người đến viết cho một tấm biển, nhưng những nhà thư pháp nổi danh không phải dễ tìm.

Đêm hôm ấy ông vừa chợp mắt ngủ thì Lỗ Ban lại đến trong mộng bảo rằng :

- Cái vụ viết biển đó, ông khoan hãy gấp. Hiện nay có một ngôi sao Thái Bạch vừa mới giáng trần, sinh ra sẽ là một nhà thơ rất lừng danh, hãy đợi ông ta viết biển cho!

Thế là Uất Trì Kính Đức không làm biển, và quả nhiên về sau khi nhà thơ Lý Bạch nổi tiếng rồi thì có người mời viết cho bốn chữ "Quan Âm chi Các" trên một tấm biển vuông.

Uất Trì Kính Đức cung kính lễ lạy Lỗ Ban, vị thợ tài ba ấy. Xây xong lầu Quan Âm rồi, ông bèn dặn thợ lập một cái miếu cho Lỗ Ban ở phía đông cách đó không xa. Vì Lỗ Ban tên thật là Công Thâu Ban, là người nước Lỗ nên dân chúng quen gọi là Lỗ Ban, do đó miếu có tên là "Công Thâu tử miếu".

Hiện nay cái miếu tinh xảo, đặc thù ấy hãy còn tồn tại.

Tài Sản của nagj
Chữ ký của nagj

_________________
Mad nagj thất tình Mad
Share

_____

Truyền Thuyết Bồ Tát Quan Âm phan 6

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Forum Thuan Viet - Chia Sẻ-Kết bạn
Trả lời nhanh
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Thuần Việt Đại Lý Tự :: Khâm Sai Thuần Việt :: Thuần Việt- Chuyển pháp luân-